NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ HỘI NGHỊ QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG LẦN THỨ TƯ KHÓA XIV

 

Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tập trung nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, trang “Chân Trời Mới Media” đã đăng tải bài viết “Vì dân trong nghị quyết và vì quyền lực trong thực tế” với những luận điệu xuyên tạc, quy chụp, cố tình bóp méo bản chất vấn đề, phủ nhận ý nghĩa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua việc cường điệu hóa những hạn chế, tiêu cực, sử dụng lập luận phiến diện và suy diễn thiếu căn cứ, bài viết nhằm gây hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với đối với sự lãnh đạo của Đảng, và ý nghĩa, hiệu quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

  1. Đánh đồng những hạn chế, bất cập trong thực tiễn với việc phủ nhận mục tiêu vì Nhân dân của Đảng và Nhà nước

           Bài viết cho rằng những tuyên bố về nâng cao đời sống Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân hoàn toàn trái ngược với thực tế. Tuy nhiên, đây là một kết luận mang tính quy chụp, chưa đưa ra hệ thống số liệu, dẫn chứng cụ thể và phương pháp đánh giá đủ sức chứng minh cho nhận định đó. Không thể phủ nhận rằng trong quá trình phát triển đất nước vẫn còn những hạn chế, bất cập trong quản lý, điều hành; song không thể lấy những tồn tại riêng lẻ để phủ nhận toàn bộ chủ trương, nỗ lực và thành quả phát triển đất nước. Đây là cách nhìn phiến diện, đánh đồng hiện tượng với bản chất, lợi dụng những vấn đề thực tiễn để xuyên tạc, phủ nhận những giá trị và kết quả đã đạt được.

Một chính sách cần được đánh giá bằng mục tiêu, nội dung, quá trình thực hiện và kết quả thực tế, chứ không thể chỉ dựa trên một số hiện tượng tiêu cực để đưa ra kết luận bao trùm về cả hệ thống. Điều quan trọng là những hạn chế được phát hiện có được xử lý hay không, trách nhiệm có được làm rõ hay không và quyền lợi chính đáng của người dân có được bảo đảm tốt hơn hay không. Vì vậy, ta cần nhận diện rõ cách đánh đồng, quy chụp nêu trên, đồng thời đánh giá các chủ trương, chính sách trên cơ sở chứng cứ khách quan, kết quả thực tiễn và yêu cầu tiếp tục khắc phục những hạn chế còn tồn tại.

  1. Cố tình đánh đồng việc thực thi pháp luật với việc phủ nhận quyền tự do ngôn luận của công dân

          Bài viết cố tình viện dẫn Luật An ninh mạng, Điều 117 và Điều 331 Bộ luật Hình sự để quy chụp rằng pháp luật được sử dụng như công cụ nhằm bịt miệng tiếng nói phản biện. Đây là cách lập luận phiến diện, đánh đồng việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật với việc hạn chế quyền tự do ngôn luận của công dân.

Quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin và các quyền cơ bản khác của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, việc thực hiện các quyền này phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, trong đó có các quy định về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và lợi ích quốc gia, dân tộc, và cần khẳng định rằng, quyền tự do ngôn luận và quyền phản biện không đồng nghĩa với quyền phát ngôn, phát tán thông tin bất chấp quy định pháp luật. Việc áp dụng pháp luật đối với hành vi vi phạm phải được xem xét trên cơ sở căn cứ, trình tự và thẩm quyền theo quy định; không thể suy diễn rằng mọi ý kiến trái chiều đều bị coi là vi phạm. Các thế lực thù địch cố tình tạo ra sự đối lập giữa thực thi pháp luật và bảo đảm quyền công dân, qua đó gây hiểu lầm, làm sai lệch nhận thức của người đọc về vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội.

Ngược lại, việc lấy một số trường hợp bị xử lý để quy kết rằng mọi tiếng nói phản biện đều bị đàn áp là cách suy luận phiến diện, thiếu căn cứ. Việc đánh giá các vụ việc phải dựa trên hành vi cụ thể, chứng cứ và quy định pháp luật có liên quan, không thể đánh đồng hành vi vi phạm với hoạt động phản biện hợp pháp của công dân.

  1. Lợi dụng vấn đề suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng

          Một trong những nội dung trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là phòng ngừa, phát hiện và xử lý các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tuy nhiên, bài viết lại đặt câu hỏi “Ai mới là người tự diễn biến?” rồi quy kết những người nắm giữ quyền lực đều biến quyền lực công thành đặc quyền, đặc lợi, qua đó đánh đồng sai phạm của cá nhân với bản chất, mục tiêu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là cách lập luận phiến diện, thiếu khách quan, cố tình bỏ qua ý nghĩa của việc chủ động nhận diện, ngăn chặn và xử lý sai phạm nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Cách lập luận này không phân biệt giữa trách nhiệm của từng cá nhân với bản chất và mục tiêu của công tác xây dựng Đảng.

Bài viết đã cố tình lợi dụng chính những biểu hiện suy thoái, biến chất của một vài cá nhân để đánh tráo bản chất, biến yêu cầu tự chỉnh đốn thành cái cớ công kích, quy kết đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đều là nguyên nhân làm sai lệch mục tiêu của nghị quyết.

Cần thấy rõ rằng, việc thẳng thắn chỉ ra khuyết điểm, xử lý cán bộ sai phạm và siết chặt kỷ luật, kỷ cương không phải là bằng chứng phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà chính là những yêu cầu không thể thiếu để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Vì vậy, không thể chấp nhận cách lợi dụng những tồn tại trong thực tiễn để xuyên tạc mục tiêu, phủ nhận nỗ lực chỉnh đốn và gieo rắc hoài nghi đối với công tác xây dựng Đảng.

  1. Đồng nhất mô hình chính trị đa đảng với dân chủ, đồng thời phủ nhận quyền làm chủ của Nhân dân trong điều kiện chính trị hiện nay ở Việt Nam

          Cho rằng không có chế độ đa đảng thì không thể có dân chủ thực chất, đồng thời nhận định Nhân dân chỉ được làm chủ trong khuôn khổ do Đảng đặt ra. Đây là cách lập luận áp đặt quan điểm chính trị chủ quan, lấy một mô hình tổ chức chính trị làm thước đo duy nhất để đánh giá dân chủ, bất chấp sự khác biệt về điều kiện lịch sử, thể chế và thực tiễn của mỗi quốc gia.

Dân chủ có nhiều phương diện, trong đó có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền bầu cử, ứng cử, quyền kiến nghị, phản ánh, giám sát hoạt động của cơ quan công quyền và quyền tham gia xây dựng chính sách theo quy định pháp luật. Việc đánh giá chất lượng dân chủ cần xem xét các quyền đó được quy định, thực hiện và bảo đảm trên thực tế như thế nào, chứ không thể chỉ căn cứ vào số lượng đảng phái chính trị.

Đối với Việt Nam, Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời nêu rõ Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Điều 6 quy định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước.

Bài viết “Vì dân trong nghị quyết và vì quyền lực trong thực tế” đã lợi dụng những hạn chế, tiêu cực trong đời sống xã hội, cố tình cường điệu mặt trái, đưa ra những nhận định phiến diện nhằm xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và gieo rắc hoài nghi trong dư luận. Trước những luận điệu này, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao cảnh giác, chủ động kiểm chứng thông tin, nhận diện và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái bằng lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực; không chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân và giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Bình Luận

Bình Luận

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *