CUỘC CHIẾN VỆ QUỐC KHÔNG SỢ KẺ THÙ CHỈ SỢ LÃNG QUÊN

Sau ngày 30/4/1975 cả nước trong niềm vui hân hoan chiến thắng, kể từ đây đất nước sạch bóng kẻ thù, non sông quy về một mối. Quên đi đau thương, mất mát của cuộc chiến, cả đất nước hăng say lao động, phấn đấu xây dựng một đất nước tươi đẹp. Chưa được tận hưởng trọn vẹn niềm vui của hòa bình, thống nhất và độc lập, nước nhà lại đối mặt với cuộc xâm lược của tập đoàn phản động PolPot, Ieng Sary và thực hiện nghĩa vụ cao cả giúp người người dân Campuchia chiến đấu chống lại thảm họa diệt chủng của bè lũ Polpot.

Thế nhưng không một lời tuyên chiến, không một ai ngờ tới đúng rạng sáng ngày 17/02/1979  hơn nửa triệu quân Trung Quốc cùng hàng nghìn xe tăng, xe cơ giới cùng khí tài chiến tranh đã đồng loạt vượt biên giới, tấn công Việt Nam dọc tuyến biên giới phía Bắc trên chiều dài 1.200km, từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) với quân số gấp 10 lần số quân phòng thủ biên giới của Việt Nam (Việt Nam có khoảng 50.000 quân gồm bộ đội địa phương, Công an vũ trang và dân quân), với sự chênh lệch về vũ khí, quân số và khí tài chiến tranh tuy nhiên với lòng quả cảm, quyết không để kẻ thù tàn phá quê hương, quân dân ta đã kiên cường đánh trả cuộc xâm lăng của Trung Quốc, đẩy lùi từng đợt tiến công của Trung Quốc.

Ở Lạng Sơn, sau 10 ngày chiến đấu, Trung Quốc tung thêm quân vào thị xã Lạng Sơn, dùng chiến thuật biển người nhằm chiếm các mục tiêu quan trọng, tuy nhiên lực lượng vũ trang địa phương đã đánh bật hàng chục đợt tiến công của giặc. Những trận đánh ác liệt, không cân sức đã diễn ra ở cầu Khánh Khê, Tam Lung, Đồng Đăng, Chi Ma, Đình Lập. Tại pháo đài Đồng Đăng 200 chiến sỹ của ta đã chiến đấu kiên cường (chỉ 6 người còn sống) để ngăn bước chân của quân Trung Quốc tiến về thị xã Lạng Sơn. Sau hơn một tuần chiến đấu không chiếm được pháo đài, đáp lại tiếng loa kêu gọi đầu hàng địch là những tràng AK và lựu đạn của quân và dân ta, đó là những tiếng trả lời đanh thép, kiên quyết không chịu hàng, dù là chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Tức tối vì không hạ được pháo đài, quân Trung Quốc đã hèn hạ đặt mìn, thả khói độc, hơi cay, đổ xăng để đốt, sự hèn hạ đó đã khiến hàng trăm người dân và chiến sỹ của ta nằm lại đó mãi mãi.

Tại mặt trận Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Quảng Ninh hàng chục sư đoàn quân Trung Quốc ồ ạt tràn vào, chúng đốt phá nhà cửa, hoa màu, giết hại gia súc, tàn sát người dân, bất kể là người già, phụ nữ, trẻ em, chỉ cần trên đường gặp là chúng thẳng tay tàn sát. Trước sự tàn ác của kẻ thù, quân và dân ta đã kiên quyết đánh trả, có thể kể đến như: Trung đoàn 246 Sư đoàn 346 cùng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ đã quần thảo với địch 4 ngày trên các chốt: Cốc Ngựu, Cốc Nhu, Cốc Vường, Nà Xác, Trường Hà, trên hướng mặt trận Hà Quảng khiến địch thiệt hại nặng nề; trên hướng Quảng Hòa, trung đoàn 567 cùng quân dân địa phương giữ vững chốt chặn ở khu vực đèo Khâu Chỉa (Phục Hòa) suốt 12 ngày ngăn không cho dùng khu vực này làm bàn đạp tiến về hướng Quảng Uyên, Mã Phục; tại mặt trận Hà Tuyên, trận chiến cao điểm Vị Xuyên nơi được gọi là “lò vôi thế kỷ”, nơi hàng nghìn chiến sỹ đã ngã xuống để ngăn bước chân kẻ thù tiến về thị xã Hà Giang.

Mặc dù đã chiến thắng quân xâm lược, bảo vệ được non sông nhưng quân xâm lược cũng đã gây cho chúng ta những thiệt hại nặng nề về người và của: Các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết hại, bị cướp, khoảng một nửa trong tổng số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện để sinh sống.

Chiến tranh đã qua đi, hòa bình được lập lại, quan hệ hợp tác giữa hai nước được bình thường hóa, nhưng chúng ta không bao giờ được quên đi những con người đã anh dũng chiến đấu và nằm lại mãi mãi suốt dải biên giới phía Bắc để bảo vệ tổ quốc thân yêu

Bình Luận

Bình Luận