VẬN DỤNG SÁNG TẠO TRIẾT LÝ HỒ CHÍ MINH ĐỂ ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng và dân tộc ta một hệ thống tư tưởng, triết lý cách mạng sâu sắc, mang giá trị lý luận và thực tiễn bền vững. Trong đó, nổi bật là ba triết lý mang tính nền tảng: lấy Nhân dân làm trung tâm, đề cao tinh thần hành động và không ngừng đổi mới sáng tạo. Đây không chỉ là kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh và tầm nhìn thời đại của Người, mà còn là kim chỉ nam xuyên suốt cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo những giá trị cốt lõi ấy, tạo động lực đưa đất nước vững bước trên con đường phát triển nhanh, bền vững, hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Lấy Nhân dân làm trung tâm của mọi chủ trương, quyết sách
Trong toàn bộ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề Nhân dân luôn giữ vị trí trung tâm. Người nhiều lần khẳng định bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi quyền lực đều thuộc về Nhân dân; mọi chủ trương, đường lối, chính sách đều phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.
Người từng nhấn mạnh: nếu đất nước được độc lập mà Nhân dân không có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc thì nền độc lập ấy chưa có ý nghĩa trọn vẹn. Quan điểm đó thể hiện tư duy vượt trước thời đại, đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển. Độc lập dân tộc phải gắn liền với nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; cách mạng không chỉ để giành chính quyền mà còn để mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho Nhân dân.
Từ nhận thức ấy, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thực sự gần dân, trọng dân, tin dân, dựa vào dân và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Người coi đây là cội nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Đối với cán bộ, đảng viên, chuẩn mực cao nhất chính là hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; việc gì có lợi cho dân phải quyết tâm thực hiện, việc gì gây bất lợi cho dân phải kiên quyết tránh.
Tinh thần ấy tiếp tục được Đại hội XIV của Đảng quán triệt sâu sắc trong hoạch định chiến lược phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển; mọi thành quả tăng trưởng phải hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững.
Đặc biệt, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng tiếp tục được đặt ở vị trí then chốt với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Đây chính là sự cụ thể hóa sâu sắc triết lý “vì dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay.
Đồng chí Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh: mục tiêu cao nhất của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng là củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo đất nước phát triển trong giai đoạn mới.
Hành động quyết liệt để đưa nghị quyết vào cuộc sống
Một trong những điểm đặc sắc làm nên giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là tinh thần hành động cách mạng. Theo Người, lý luận chỉ có giá trị khi được kiểm nghiệm bằng thực tiễn; nói phải đi đôi với làm; cán bộ, đảng viên phải tiên phong bằng hành động cụ thể chứ không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hay lời nói.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tính gương mẫu, trách nhiệm và hiệu quả công việc. Người cho rằng sức thuyết phục lớn nhất không nằm ở diễn văn hay khẩu hiệu mà ở những việc làm thiết thực, mang lại lợi ích thực sự cho Nhân dân. Người cũng đặc biệt phê phán bệnh quan liêu, hình thức, xa rời thực tiễn; yêu cầu cán bộ phải sâu sát cơ sở, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Tinh thần hành động ấy được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng với yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện nghị quyết. Đảng xác định phải chuyển mạnh từ tư duy “ban hành nghị quyết” sang tư duy “thực thi hiệu quả”; lấy kết quả cụ thể trong thực tiễn làm thước đo năng lực lãnh đạo, quản lý và sức chiến đấu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.
Cùng với đó là yêu cầu siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm nêu gương, xác định rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ kết quả. Khi trách nhiệm được phân định cụ thể sẽ hạn chế tình trạng né tránh, đùn đẩy, thiếu quyết liệt trong thực thi nhiệm vụ.
Trong nhiều bài phát biểu quan trọng, đồng chí Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu hành động quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả; biến khát vọng phát triển thành hành động cụ thể; biến chủ trương, đường lối thành kết quả thực chất trong đời sống xã hội. Tinh thần “nói đi đôi với làm, làm quyết liệt, làm đến cùng” chính là sự kế thừa và phát triển sinh động triết lý hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới.
Có thể khẳng định, chỉ khi nghị quyết được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể, bằng sản phẩm và kết quả rõ ràng thì niềm tin của Nhân dân mới tiếp tục được củng cố, tạo nên sự đồng thuận và sức mạnh to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đổi mới sáng tạo – động lực tạo đột phá phát triển
Bên cạnh triết lý vì dân và triết lý hành động, tư tưởng Hồ Chí Minh còn nổi bật bởi tinh thần đổi mới, sáng tạo. Đây là yếu tố thể hiện rõ bản lĩnh độc lập, tự chủ và tầm nhìn chiến lược của một lãnh tụ cách mạng thiên tài.
Sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là thay đổi tùy tiện, mà là sự linh hoạt trên cơ sở kiên định mục tiêu chiến lược. Người luôn nhấn mạnh phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế phát triển của thời đại.
Trong suốt tiến trình cách mạng, chính tinh thần sáng tạo ấy đã giúp Đảng ta đưa ra nhiều quyết sách đúng đắn, tạo nên những bước ngoặt lịch sử quan trọng. Từ lựa chọn con đường giải phóng dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân đến nghệ thuật kết hợp giữa chiến lược và sách lược, tất cả đều thể hiện tư duy độc lập, sáng tạo và linh hoạt của Hồ Chí Minh.
Kế thừa tư tưởng đó, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Văn kiện Đại hội nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế, phát huy tối đa nguồn lực trong xã hội; lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng tạo đột phá chiến lược.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là phát triển nhanh mà còn phải phát triển thông minh, bền vững và có khả năng cạnh tranh cao. Điều đó đòi hỏi toàn hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên và mỗi người dân phải chủ động đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm; dám đột phá vì lợi ích chung của đất nước.
Đồng chí Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, đổi mới phương thức quản trị và tổ chức thực hiện; coi sáng tạo là điều kiện tiên quyết để đất nước bứt phá trong giai đoạn phát triển mới. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của thực tiễn mà còn là sự tiếp nối sinh động tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước trong thời đại mới.
Có thể thấy, ba triết lý lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: vì dân, hành động và sáng tạo luôn gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau, tạo thành nền tảng tư tưởng vững chắc cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã vận dụng sáng tạo những giá trị đó vào hoạch định đường lối phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh thời cơ và thách thức đan xen, việc kiên định mục tiêu vì Nhân dân, đề cao tinh thần hành động quyết liệt và khơi dậy mạnh mẽ khát vọng đổi mới sáng tạo sẽ là động lực quan trọng để đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, vững tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam hùng cường, phồn vinh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.
