BIỂN ĐÔNG: GÓC NHÌN TỪ BÃI TƯ CHÍNH

Thời gian qua, tình hình biển Đông diễn biến hết sức phức tạp. Trên các báo điện tử, các trang mạng xã hội cả trong và ngoài nước, cả chính luận cũng như ngoài lề đều đăng tải hàng loạt các thông tin có liên quan khiến cho dư luận xã hội rơi vào một ma trận thông tin, không biết đâu là đúng, sai. Nhiều ý kiến đả kích, phê bình chính quyền Việt Nam đã phản ứng chậm chạp, yếu ớt trước những hành vi xâm phạm lãnh hải của Trung Quốc cũng như không huy động lực lượng, tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng nhân dân để phản đối Trung Quốc. Vậy sự thực ra sao?
Trên quan điểm cá nhân về vấn đề này, tôi xin ra nêu ra luận điểm sau:
Thứ nhất, sự việc nhóm tàu hải dương 8 và tàu hộ tống của Trung Quốc xâm phạm vùng biển đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam diễn ra từ đầu tháng 7/2019, tuy nhiên trên các phương tiện thông tin đại chúng những ngày sau đó đều không vội vàng đưa tin vì lý do sau:
– Tránh đánh động dư luận, gây ra các vụ biểu tình bạo động lớn như vụ giàn khoan HD-981 năm 2014.
– Nếu xảy ra bạo động thì cũng không có lợi cho nền kinh tế và cả ngoại giao, điều này sẽ gây sức ép lớn lên quá trình giải quyết tình hình trên thực địa.
Chắc hẳn chúng ta còn nhớ thời điểm năm 2014, sau vụ giàn khoan HD-981 đã diễn ra một số cuộc biểu tình, bạo động hệ quả để lại là một số doanh nghiệp Trung Quốc đã bị những người biểu tình đập phá, gây thiệt hại lớn về tài sản, đình trệ sản xuất. Ngoài việc Nhà nước phải bỏ tiền ra để đền bù thiệt hại cho các doanh nghiệp Trung Quốc thì nó cũng là cái cớ để nước ngoài gây sức ép chính trị, ngoại giao. Mà cái tổn hại lớn nhất là sự mất uy tín của Việt Nam trong việc ổn định tình hình chính trị, an toàn xã hội, môi trường đầu tư chúng ta đã xây dựng bấy lâu nay trước cộng đồng quốc tế. Do đó, đối với sự việc diễn ra ở Bãi Tư Chính thì Chính phủ Việt Nam phải ưu tiên ổn định đối nội và kiểm soát thông tin là để thực hiện mục tiêu đó. Kiểm soát thông tin là một chuyện, các chính sách thực địa là một chuyện khác và không đánh đồng hai chuyện này với nhau được. Thực tế, các lực lượng hành pháp, chấp pháp trên biển của Việt Nam luôn thường trực, sẵn sàng có hành động để đảm bảo chủ quyền trên biển của Tổ quốc trước các hành vi xâm phạm.
Thứ hai, quan điểm, lập trường, hành động của Việt Nam đối với vấn đề xung đột Biển đông được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Từ khi diễn ra vụ việc ở bãi Tư Chính, Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc, ra Công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam; tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hòa bình ở khu vực. Cộng đồng quốc tế đánh giá cao và ủng hộ lập trường nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 trước bất cứ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Đây là điểm mấu chốt, quan trọng trong việc giải quyết vấn đề về Biển đông, bởi vì mặc dù chúng ta có đầy đủ yếu tố lịch sử, pháp luật quốc tế ủng hộ tuy nhiên cũng phải nhìn nhận lại Việt Nam là một nước nhỏ gần kề với ông lớn Trung Quốc với mưu đồ bá chủ Biển đông đã được khẳng định. Chúng ta đang phải đối diện với những chiến lược xâm lấn của Trung Quốc và sẽ không thể tránh được những “đợt va chạm” như vụ Bãi tư chính như là phép thử của Trung Quốc đối với phản ứng của Việt Nam, và nếu không có chiến lược đúng đắn thì Việt Nam sẽ sập bẫy ý đồ của Trung Quốc muốn tạo cái cớ can thiệp sâu hơn vào vùng biển của Việt Nam, biến những vùng biển không có tranh chấp thành vùng biển tranh chấp.
Câu hỏi đặt ra là Việt Nam có nên áp dụng biện pháp cứng rắn để bảo vệ chủ quyền? Bài học gần nhất hãy nhìn sang người hàng xóm Philippin, năm 2016 đã kiên quyết áp dụng các biện pháp cứng rắn, khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, Philippin đã thắng kiện nhưng tại thực địa hầu như không có sự thay đổi bởi Trung Quốc không công nhận bản án của Tòa Quốc tế đồng thời Tòa Quốc tế cũng không có chế tài cụ thể để thi hành bản án. Sau đó Philippin đã phải thay đổi lại chính sách và họ cũng phải học tập Việt Nam về vấn đề xử lý xung đột tại Biển Đông. Hãy thử hình dung nếu Việt Nam áp dụng các biện pháp cứng rắn, đẩy xung đột lên cao thì điều gì sẽ xảy ra. Điều trước tiên chúng ta có thể nhận thấy là sự căng thẳng chính trị, ngoại giao sẽ kéo theo việc phá vỡ cấu trúc nền kinh tế, đẩy Việt Nam vào khủng hoảng khi mà cơ cấu, tỷ trọng nền kinh tế đang phụ thuộc nhiều vào phía Trung Quốc… Trên thực tế thì vụ việc tại Bãi Tư Chính cũng chưa đến mức căng thẳng tột độ để chúng ta phải áp dụng các biện pháp cứng rắn khi mà các biện pháp ngoại giao mềm dẻo của Chính phủ Việt Nam đang phát huy tác dụng và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Dã tâm của Trung Quốc đã rõ, chiến lược của Trung Quốc cũng được phơi bày trên các mặt báo. Vậy với mỗi cá nhân chúng ta thì suy nghĩ và hành động thế nào? Phải chăng là ngồi gõ bàn phím để phê bình chính phủ Việt Nam không hành động hay kêu gọi xuống đường biểu tình phản đối Trung Quốc như nhiều facebooker đăng đàn? Với cá nhân tôi mỗi người đều có một lý lẽ và lập luận riêng nhưng tựu chung lại là mong ước đất nước được bình yên, hòa bình và hạnh phúc. Còn hành động như thế nào để đóng góp cho đất nước thì mỗi cá nhân cần phải có hiểu biết, đừng mang những cảm tính và suy nghĩ chưa thấu đáo lên trên trang mạng xã hội để rồi mắc đúng âm mưu diễn biến của các thế lực thù địch chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm giảm sức mạnh của Việt Nam trong công cuộc gìn giữ hòa bình, bảo vệ vững chắc biên cương, lãnh hải của Tổ quốc.
